cho lần đầu bạn đến với CuongDC Community

Kéo bài viết Nhấn phím mũi tên Nút xem tất cả
"img" + data:o

PHÂN BIỆT : THÀNH NGỮ (IDIOM) ... TỤC NGỮ (PROVERB) ... CHÂM NGÔN (SAYING) ... DANH NGÔN (FAMOUS SAYING)

"img" + data:o

Hồi sinh : y học Việt Nam vô đối ☺☻☺

"img" + data:o

Sex training hay Sex Education? : Ko rõ nghĩa thì đừng dùng

excuse me vs sorry

"img" + data:o

Confused word : Welcome

"img" + data:o

'CÓ" : Lỗi phổ biến mà dân học tiếng Anh "thích" mắc phải

PHÂN BIỆT : THÀNH NGỮ (IDIOM) ... TỤC NGỮ (PROVERB) ... CHÂM NGÔN (SAYING) ... DANH NGÔN (FAMOUS SAYING)



Phân biệt


THÀNH NGỮ (IDIOM)

TỤC NGỮ (PROVERB)

CHÂM NGÔN (SAYING)

DANH NGÔN (FAMOUS SAYING)









1. Tục ngữ: là những câu nói ngắn gọn, súc tích, (thường) có vần điệu, nội dung chứa đựng lời khuyên răn, kinh nghiệm... của người xưa đối với hậu thế. Tục ngữ thường là kinh nghiệm của dân gian, do vậy không có tác giả.

VD: Tốt gỗ hơn tốt nước sơn, gần mực thì đen gần đèn thì sáng.

2. Thành ngữ: là những câu hay cụm từ được dùng phổ biến trong giao tiếp ngôn ngữ hằng ngày và mang một ý nghĩa nhất định, đôi khi không phụ thuộc vào bản thân những từ cấu tạo (ghép lại) nên thành ngữ đó. Như vậy tính chất quan trọng nhất của thành ngữ là tính quen thuộc trong cách dùng. Đây là một khái niệm tồn tại không chỉ trong tiếng Việt mà cả ở những ngôn ngữ khác (Anh, Pháp...). Một thành ngữ không nhất thiết phải mang trong nó ý nghĩa khuyên răn hay kinh nghiệm như tục ngữ.

VD: thập tử nhất sinh, đem con bỏ chợ, mồ yên mả đẹp, há miệng chờ sung ....

3. Châm ngôn: từ "châm" ở đây có nghĩa là phương châm. Châm ngôn có nghĩa là những câu nói thường có ý nghĩa khuyên răn, dạy bảo. Giống với tục ngữ, châm ngôn thường không có tác giả (tác giả là nhân dân). Tuy nhiên, khác với tục ngữ, châm ngôn không mang đặc trưng vần điệu. Một điểm khác biệt nữa là châm ngôn chủ yếu có tính giáo dục, khuyên răn, chứ không mang tính "kinh nghiệm" như tục ngữ. Không thể tìm thấy những câu châm ngôn có ý nghĩa "tương đương" với những câu tục ngữ mang tính kinh nghiệm kiểu như "Trăng quầng trời hạn trăng tán trời mưa"…

VD: Việc hôm nay chớ để ngày mai, thất bại là mẹ thành công ...

4. Danh ngôn: là những "lời hay ý đẹp", thường của những danh nhân. Danh ngôn không đòi hỏi tính vần điệu hay ngắn gọn như tục ngữ, châm ngôn.

VD: Thiên tài là 1% tài năng bẩm sinh và 99% mồ hôi và nước mắt. (T.Edison)...

Tìm hiểu về tục ngữ, châm ngôn có ngữ nghĩa tương đương giữa tiếng Việt và tiếng Anh không những giúp bạn học tiếng Anh một cách nhẹ nhàng, dễ nhớ, dễ thuộc mà trong nhiều trường hợp còn giúp bạn chuyển tải nội dung một cách cô đọng, gần gũi với người nghe.




Hồi sinh : y học Việt Nam vô đối ☺☻☺

Sex training hay Sex Education? : Ko rõ nghĩa thì đừng dùng


BLOG NGUYỄN VẠN PHÚ:
♥♪♫


Sáng thứ Hai đầu tuần, đọc được mẩu tin trên báo Thanh Niên “Khởi động Sex Training Tour 2011” thiệt là giúp đỡ căng thẳng đầu óc. Tin này thật ra được nhiều báo đăng, nói về Chương trình giáo dục giới tính do Đoàn trường Cao đẳng Thương mại TP Đà Nẵng phối hợp với công ty cổ phần du lịch Việt Đà tổ chức.
.
Haha. Sao hết cách đặt lại đặt cho chương trình một cái tên như thế?
.
“Sex training” hàm ý huấn luyện kỹ năng làm tình, nghệ thuật làm tình!
.
Còn giáo dục giới tính phải gọi là “sex education”.
.
Bên Mỹ người ta cũng tranh cãi về hai khái niệm “training” và “education” và câu nói thường được đem ra để minh họa cho sự khác nhau giữa hai khái niệm này là câu: “Do you want your 14 year old daughter to attend a sex EDUCATION class, or a sex TRAINING class?”
.
Tức là cho dù có nghĩ “training” với “education” giống nhau đi nữa thì người ta cũng không thể bỏ qua yếu tố khác nhau giữa chúng khi dùng trong ngữ cảnh “sex training” và “sex education”.
.
Thôi, tốt nhất là đổi tên chương trình và tốt hơn cả là dùng tiếng Việt cho khỏe.

BLOG TIẾN SỸ TUẤN

Người Tây phương, nhất là những kẻ có học vấn thấp ở các nước như Úc, Mĩ, Âu châu, v.v… nhìn Thái Lan như là một thị trường du lịch sex, nơi mà họ có thể bỏ tiền ra mua dâm một cách rẻ mạt, để thể hiện cái thực dân chủ nghĩa thời xa xưa của cha ông họ.
Tôi không nghĩ là Việt Nam muốn tự biến thành một địa điểm sex tourism hay sex training tourism, vì như thế thì nhục lắm.
Đọc đến đoạn cuối của bản tin tôi mới biết rằng mục tiêu của chương trình du lịch là “giáo dục giới tính”, hay nói theo tiếng Anh là Sex Education. Giáo dục giới tính là một thuật ngữ chung để nói đến những chương trình giáo dục về sinh lí, tái sản sinh, sức khỏe giới, v.v…

Vậy thì tại sao không đặt tựa đề bản tin là “Khởi động chương trình du lịch giáo dục giới tính”? Sao lại “chơi nổi” để cho ra một tựa đề [xin lỗi] lai căng như thế nhỉ? Chẳng những lai căng mà con sai ý nghĩa. Xin nói thêm rằng tuy hai chữ education và training có cùng một phạm trù về nghĩa, nhưng education là hàm ý nói đến lí thuyết, khái niệm, khoa học; còn training là chủ yếu đề cập đến thực hành, kĩ năng, dạy nghề. (Bộ Giáo dục và Đào tạo là Ministry of Education and Training).

Các chuyên gia thường khuyến khích nên viết tiếng Anh đơn giản. Tôi nghĩ tiếng Việt cũng thế: chọn chữ nào càng đơn giản và dễ hiểu càng tốt. Tránh những cái tựa đề hay câu chữ lâu lâu chen vào mấy chữ Anh như teen, top hit, album, hay vô duyên hơn là sex training.

Nói đến chữ training làm tôi nhớ cách đây không lâu khi nhóm chúng tôi tranh luận nhau chữ trained nurse, trained technologist trong bài báo khoa học. Thông thường trong nghiên cứu y khoa, y tá cùng bác sĩ thu thập dữ liệu, và các chuyên gia tiến hành đo lường các chỉ số sinh hóa, nên người ta thường có câu “Data collection was done by a trained nurse and a doctor. The skeletal measurements were done by a trained technologist”. Chữ trained nurse hàm ý nói rằng y tá được huấn luyện để thu thập dữ liệu, và trained technologist là nói rằng chuyên gia được tập huấn để làm đo lường.

Có người trong ban biên tập phê bình rằng chữ trained thường hay dùng cho... chó (như trained dog) chứ không nên dùng cho người. Vả lại, đã là y tá hay technologist và đã tham gia nghiên cứu thì phải qua đào tạo rồi, nên viết trained nurse là thừa. Ai cũng sững sờ trước nhận xét này vì bấy lâu nay ai cũng sử dụng cách viết đó như là một quán tính mà không ai để ý đến ý nghĩa thật của nó. Nói như thế để thấy rằng cần phải cẩn thận với việc dùng chữ training hay trained. Tôi nghĩ nguyên tắc an toàn là nếu không rõ ý nghĩa của từ, thì cách "an toàn" nhất là dùng từ đơn giản và có ý nghĩa mà ai cũng hiểu


.

excuse me vs sorry

===========
EXCUSE ME
===========

định quấy rầy ai đó

định ngắt lời ai đó

định thu hút sự chú ý

e.g. : excuse me, could you please make some adjustments here?

======
SORRY
======

sau khi quấy rầy

sau khi gây ra sự bất tiện

e.g. : i'm sorry that i'm late

Confused word : Welcome


Biển hiệu chào mừng Hội nghị ASEAN Việt Nam 2010 bằng tiếng Anh rộng hàng chục m2 đặt trên đường Phạm Văn Đồng (đoạn trước cửa Metro) mắc lỗi sơ đẳng.






Biển hiệu này được dựng từ hồi đầu tháng 4 trên tuyến đường cửa ngõ thủ đô - nơi xe chở khách quốc tế dự Hội nghị ASEAN chạy từ sân bay Nội Bài về trung tâm Hà Nội. Ảnh chụp ngày 11/4.





Thay vì viết là "Welcome to...", tấm pano khổ lớn này lại ghi thành "Well come to...".





Trong thư gửi đến VnExpress.net, độc giả Nguyễn Thái Long nhận xét, đây là lỗi chính tả ngờ nghệch đến khó tin.





Cách đó không xa là những pano viết đúng.

 

'CÓ" : Lỗi phổ biến mà dân học tiếng Anh "thích" mắc phải

by English with a Native Speaker 


Có 2 cấu trúc hoàn toàn khác nhau trong tiếng Anh, nhưng dân học ngoại ngữ nhà mình rất hay sử dụng như thể chúng là một vậy (mặc dù các bạn ấy biết rất rõ sự khác nhau giữa chúng)


- Thứ nhất là “There + to be + something somewhere”--- Có thứ gì đó ở đâu đó.
VD: “There is a book on the table”- Có một quyển sách trên bàn, và “There are some students in the schoolyard” – Có vài học sinh trên sân trường.

- Thứ hai là “ Somebody + to have + something” – Ai đó có cái gì đó.
VD: “They have two big houses – Họ có hai ngôi nhà lớn, và “She has long legs and blond hair” – Cô ấy có một đôi chân dài và một mái tóc vàng.


Nghe thì có vẻ rất dễ phân biệt, và chẳng có gì đáng nhầm lẫn cả, nhưng 99% các bạn học tiếng Anh nhầm lẫn các cấu trúc này, kể cả các bạn advance.

VD: thay vì nói “There are some students in the schoolyard” các bạn sẽ nói “ have some students in the schoolyard”. Thứ nhất, đây không phải là một câu, vì hoàn toàn không có chủ ngữ. Thứ hai, ý của người nói là “có sự hiện diện của một học sinh trên sân trường”, chứ không phải là “cái sân trường sở hữu một số học sinh”

Mặc dù các bạn có thể đã thông thạo 2 cấu trúc này rồi, nhưng note này sẽ giúp các bạn sử dụng chúng thành thạo và có chủ ý hơn, để tránh những lỗi hết sức cơ bản.

Mẹo nhỏ để nhớ 2 cấu trúc này là: “hoàn toàn quên từ “có” trong 2 cấu trúc này đi”, thay đổi cách suy nghĩ về chúng. Khi:
- Nói về SỰ TỒN TẠI và SỰ HIỆN DIỆN thì sử dụng “There +to be”
- SỰ SỞ HỮU thì dùng “Somebody + to have”

 hi vọng sau khi đọc note này sẽ có ít bạn mắc lỗi này hơn.

STAY HUNGRY - STAY FOOLISH

Technology

Lifestyle

Sports

Gallery

Random Posts

Business

Popular Posts

About US

Entertainment

Post Featured